Hết thời hiệu chia thừa kế thì di sản được giải quyết ra sao?

Hết thời hiệu chia thừa kế thì di sản được giải quyết ra sao?

Trong thực tế, nhiều vụ việc thừa kế kéo dài nhiều năm nhưng các đồng thừa kế không yêu cầu phân chia di sản. Đến khi phát sinh tranh chấp thì thời hiệu khởi kiện về thừa kế đã hết, dẫn đến nhiều người không biết di sản sẽ được xử lý như thế nào theo quy định pháp luật.

Vậy khi hết thời hiệu chia thừa kế thì di sản thuộc về ai? Có còn được khởi kiện yêu cầu chia di sản hay không? Bài viết dưới đây sẽ giúp bạn hiểu rõ quy định pháp luật hiện hành.


Thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế là bao lâu?

Qua các giai đoạn pháp luật khác nhau, quy định về thời hiệu thừa kế có sự thay đổi nhất định.

Quy định theo các văn bản pháp luật trước đây

Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 quy định thời hiệu yêu cầu chia di sản là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế theo Điều 36.

Bộ luật Dân sự 1995 cũng quy định thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế theo Điều 648.

Tuy nhiên, các văn bản này chưa quy định cụ thể cách xử lý di sản khi hết thời hiệu khởi kiện.

Hướng dẫn của Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP

Đến Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TANDTC, pháp luật bắt đầu hướng dẫn cụ thể cách giải quyết đối với trường hợp hết thời hiệu thừa kế.

Theo đó, nếu:

  • Các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế;
  • Đều thừa nhận di sản chưa chia;
  • Hoặc cùng xác nhận là đồng thừa kế,

thì di sản được xem là tài sản chung của các thừa kế.

Khi phát sinh tranh chấp, Tòa án sẽ giải quyết theo quy định về chia tài sản chung thay vì áp dụng thời hiệu khởi kiện về thừa kế.


Bộ luật Dân sự 2015 quy định thế nào về thời hiệu thừa kế?

Hiện nay, vấn đề thời hiệu thừa kế được quy định tại Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015.

Theo đó:

  • Thời hiệu yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản;
  • Thời hiệu yêu cầu chia di sản là 10 năm đối với động sản.

Thời hiệu được tính từ thời điểm mở thừa kế.

Ngoài ra:

  • Thời hiệu yêu cầu xác nhận quyền thừa kế hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm;
  • Thời hiệu yêu cầu thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết để lại là 03 năm.

Đây là căn cứ quan trọng để xác định quyền khởi kiện trong các vụ tranh chấp thừa kế.


Hết thời hiệu chia thừa kế thì di sản thuộc về ai?

Điểm đáng chú ý của Bộ luật Dân sự 2015 là đã quy định cụ thể cách xử lý di sản sau khi hết thời hiệu yêu cầu chia thừa kế.

Di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản

Theo khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015:

“Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó”.

Như vậy, để được xác định quyền sở hữu, chủ thể phải đáp ứng đồng thời hai điều kiện:

  • Là người thừa kế;
  • Đang quản lý di sản.

Thế nào là người thừa kế đang quản lý di sản?

Văn bản số 01/GĐ-TANDTC ngày 25/7/2016 của TANDTC hướng dẫn rằng:

Người thừa kế đang quản lý di sản phải là người đang chiếm hữu và sử dụng di sản hợp pháp theo quy định của Bộ luật Dân sự.

Nếu có nhiều người cùng quản lý và sử dụng di sản thì di sản thuộc sở hữu chung của họ.

Trường hợp mỗi người quản lý ở từng giai đoạn khác nhau, Tòa án sẽ xem xét từng vụ việc cụ thể để xác định quyền sở hữu.


Trường hợp không có người thừa kế quản lý di sản thì giải quyết thế nào?

Nếu không có người thừa kế đang quản lý di sản, pháp luật tiếp tục xem xét đến người đang chiếm hữu tài sản.

Di sản có thể thuộc về người đang chiếm hữu

Theo điểm a khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015, di sản có thể thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo Điều 236 Bộ luật Dân sự.

Điều 236 quy định:

Người chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng:

  • Ngay tình;
  • Liên tục;
  • Công khai,

trong thời hạn:

  • 10 năm đối với động sản;
  • 30 năm đối với bất động sản,

thì có thể xác lập quyền sở hữu đối với tài sản đó.

Điều kiện để được xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu

Người đang chiếm hữu di sản phải đáp ứng các điều kiện:

  • Không phải là người thừa kế;
  • Việc chiếm hữu phải ngay tình;
  • Việc sử dụng tài sản phải công khai, liên tục;
  • Đủ thời gian theo quy định pháp luật.

Nếu không đáp ứng các điều kiện này thì không được xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu.


Khi nào di sản thuộc về Nhà nước?

Theo khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015, nếu:

  • Không có người thừa kế đang quản lý di sản;
  • Không có người chiếm hữu hợp pháp theo Điều 236,

thì di sản thuộc về Nhà nước.

Đây là phương án cuối cùng khi không xác định được chủ thể có quyền đối với di sản.


Hết thời hiệu có còn được khởi kiện chia di sản không?

Nhiều người cho rằng hết thời hiệu thì hoàn toàn mất quyền yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, thực tế cần xem xét từng trường hợp cụ thể.

Nếu đáp ứng điều kiện theo hướng dẫn tại Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP, di sản có thể được xem là tài sản chung của các đồng thừa kế.

Khi đó, tranh chấp sẽ được giải quyết theo quy định về chia tài sản chung thay vì tranh chấp thừa kế.

Do đó, việc xác định:

  • Thời điểm mở thừa kế;
  • Quá trình quản lý di sản;
  • Tình trạng sử dụng tài sản;
  • Việc các đồng thừa kế có tranh chấp hay không,

là yếu tố rất quan trọng trong quá trình giải quyết vụ việc.


Kết luận

Pháp luật hiện hành quy định khá rõ cách giải quyết di sản khi hết thời hiệu yêu cầu chia thừa kế.

Tùy từng trường hợp cụ thể, di sản có thể:

  • Thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản;
  • Thuộc về người đang chiếm hữu hợp pháp;
  • Hoặc thuộc về Nhà nước.

Trong các vụ việc thừa kế kéo dài nhiều năm hoặc có tranh chấp phức tạp về quyền quản lý, sử dụng tài sản, việc rà soát hồ sơ và xác định đúng quy định pháp luật là rất quan trọng để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan.

👉 Tham khảo thêm bài viết:  Ai là người có quyền quản lý di sản thừa kế?

Mọi vướng mắc về thủ tục pháp lý liên quan đến hôn nhân, thừa kế, đất đai hoặc thi hành án sẽ được chúng tôi tư vấn giải pháp tối ưu, giúp quý khách tiết kiệm tối đa thời gian và chi phí.

Liên hệ Hotline để được tư vấn và hỗ trợ ngay:
0934.586.924

0934.586.924