
Nhiều cặp đôi hiện nay lựa chọn sống chung với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn. Khi một bên qua đời, tranh chấp thường phát sinh liên quan đến nhà đất, tài sản hoặc quyền hưởng di sản thừa kế.
Vậy người sống chung như vợ chồng có được hưởng thừa kế của nhau hay không? Trường hợp nào được pháp luật công nhận? Đây là vấn đề nhiều người dễ hiểu nhầm trên thực tế.
Sống chung như vợ chồng có được hưởng thừa kế không?
Theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015 và pháp luật hôn nhân gia đình, nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn vẫn có thể được hưởng di sản thừa kế trong một số trường hợp nhất định.
Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp sống chung đều mặc nhiên được chia thừa kế như vợ chồng hợp pháp.
Thông thường, sẽ có hai trường hợp phổ biến sau đây.
Trường hợp được hưởng thừa kế theo di chúc
Theo Điều 609 và Điều 626 Bộ luật Dân sự 2015, cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình cho bất kỳ ai.
Do đó, người đang sống chung như vợ chồng hoàn toàn có thể được hưởng di sản nếu:
- Người chết có để lại di chúc hợp pháp;
- Trong di chúc có chỉ định người đó được hưởng tài sản.
Trong trường hợp này, pháp luật không bắt buộc hai bên phải có đăng ký kết hôn.
Tuy nhiên, di chúc phải đáp ứng điều kiện hợp pháp theo quy định của Bộ luật Dân sự và còn hiệu lực tại thời điểm mở thừa kế.
Ngoài ra, việc chia di sản vẫn cần xem xét đến người thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc theo quy định pháp luật.
Khi nào sống chung như vợ chồng được công nhận để chia thừa kế theo pháp luật?
Bên cạnh trường hợp có di chúc, pháp luật vẫn công nhận một số trường hợp nam nữ sống chung như vợ chồng để làm căn cứ hưởng thừa kế theo pháp luật.
Tuy nhiên, điều kiện này khá đặc biệt và không áp dụng cho mọi trường hợp.
Chỉ công nhận quan hệ hôn nhân trong một số trường hợp nhất định
Theo điểm d mục 2 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/01/2001 và khoản 2 Điều 44 Nghị định 123/2015/NĐ-CP, nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 03/01/1987 mà chưa đăng ký kết hôn thì vẫn có thể được pháp luật công nhận là vợ chồng.
Khi được công nhận quan hệ hôn nhân, người còn lại có thể thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015.
Điều này đồng nghĩa với việc họ có quyền yêu cầu chia di sản thừa kế theo pháp luật.
Ngược lại, các trường hợp sống chung sau thời điểm 03/01/1987 nhưng không đăng ký kết hôn thì thông thường sẽ không được công nhận là vợ chồng hợp pháp để hưởng thừa kế theo pháp luật.
Căn cứ xác định việc sống chung như vợ chồng
Trong thực tế, nhiều vụ việc phát sinh tranh chấp do không có giấy đăng ký kết hôn nhưng các bên đã chung sống nhiều năm.
Khi đó, Tòa án sẽ xem xét các tài liệu và chứng cứ để xác định có hay không việc chung sống như vợ chồng.
Có tổ chức lễ cưới theo phong tục
Một trong những căn cứ thường được xem xét là việc hai bên có tổ chức lễ cưới hay không.
Lễ cưới có thể được tổ chức theo phong tục, tập quán địa phương và được gia đình hoặc cộng đồng biết đến.
Được gia đình hai bên thừa nhận
Việc sống chung được gia đình hai bên chấp nhận cũng là căn cứ quan trọng.
Trên thực tế, nhiều trường hợp không đăng ký kết hôn nhưng vẫn được họ hàng, người thân xem là vợ chồng trong thời gian dài.
Có người làm chứng hoặc tổ chức xác nhận
Tòa án cũng có thể xem xét lời khai của người làm chứng hoặc xác nhận từ cơ quan, tổ chức nơi hai bên sinh sống, làm việc.
Ví dụ:
- Tổ dân phố;
- Chính quyền địa phương;
- Cơ quan công tác;
- Tổ chức đoàn thể.
Thực tế cùng nhau xây dựng gia đình
Ngoài các giấy tờ, việc cùng sinh sống, chăm sóc nhau và xây dựng gia đình cũng là yếu tố quan trọng.
Một số biểu hiện thường gặp gồm:
- Có con chung;
- Cùng quản lý tài sản;
- Cùng chăm sóc cha mẹ hai bên;
- Chung sống ổn định trong thời gian dài.
Tòa án sẽ đánh giá tổng thể các yếu tố này để xem xét yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân.
Người sống chung không đăng ký kết hôn có được chia tài sản không?
Đây là vấn đề thường bị nhầm lẫn với quyền hưởng thừa kế.
Trường hợp không được công nhận là vợ chồng hợp pháp thì hai bên vẫn có thể có quyền đối với tài sản chung nếu chứng minh được công sức đóng góp.
Tuy nhiên, đây là quan hệ tranh chấp tài sản dân sự chứ không phải quan hệ thừa kế giữa vợ và chồng theo pháp luật.
Do đó, việc xác định quyền đối với tài sản thường phụ thuộc vào:
- Công sức tạo lập tài sản;
- Giấy tờ đứng tên;
- Thỏa thuận giữa các bên;
- Chứng cứ thực tế trong quá trình chung sống.
Một số lưu ý khi xảy ra tranh chấp thừa kế
Các vụ việc liên quan đến sống chung như vợ chồng thường khá phức tạp vì liên quan đến cả pháp luật hôn nhân gia đình và pháp luật thừa kế.
Người có yêu cầu chia di sản nên lưu ý:
- Xác định rõ thời điểm bắt đầu chung sống;
- Kiểm tra có đăng ký kết hôn hay không;
- Thu thập chứng cứ về quan hệ chung sống;
- Xác định có di chúc hợp pháp hay không;
- Kiểm tra nguồn gốc tài sản để lại.
Đối với trường hợp có tranh chấp nhà đất hoặc nhiều người thừa kế, việc chuẩn bị hồ sơ và chứng cứ từ sớm thường rất quan trọng.
Người sống chung như vợ chồng vẫn có thể được hưởng thừa kế trong một số trường hợp nhất định. Phổ biến nhất là trường hợp được chỉ định trong di chúc hoặc được Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân theo quy định pháp luật.
Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp sống chung đều mặc nhiên được xem là vợ chồng hợp pháp để chia thừa kế theo pháp luật. Vì vậy, khi phát sinh tranh chấp về nhà đất hoặc di sản, việc xác định đúng quan hệ pháp lý và chuẩn bị chứng cứ phù hợp là vấn đề rất quan trọng.
Đối với các vụ việc có yếu tố tranh chấp hoặc hồ sơ phức tạp, người liên quan nên tìm hiểu kỹ quy định pháp luật trước khi thực hiện thủ tục để hạn chế rủi ro phát sinh về sau.
👉 Tham khảo thêm bài viết: Tài sản không có người thừa kế sẽ thuộc về ai?
Mọi vướng mắc về thủ tục pháp lý liên quan đến hôn nhân, thừa kế, đất đai hoặc thi hành án sẽ được chúng tôi tư vấn giải pháp tối ưu, giúp quý khách tiết kiệm tối đa thời gian và chi phí.